Tuesday, 10 January 2012

Ngân hàng 2012: Rủi ro thanh khoản còn rất cao


(VEF,VN) - Bước sang năm 2012 mọi người đều rất muốn hình dung ra nền kinh tế sẽ như thế nào, có rất nhiều dự báo nhưng lạm phát, sự trì trệ và thanh khoản ngân hàng vẫn là những nguy cơ thường trực.

Trì trệ đi liền với lạm phát
Tại chương trình toạ đàm về: "kịch bản kinh tế 2012 cơ hội và thách thức" do Ủy Ban Giam sát Tài chính Quốc Gia đã tổ chức, tất cả các nhà kinh tế đều có chung nhận định rằng tăng trưởng kinh tế Việt Nam 2012 sẽ không đạt mức 6-6,5% như kế hoạch đề ra, mà chỉ đạt mức 5%; Lạm phát sẽ giảm mạnh dưới 10%; Thị trường tài chính tiền tệ đối mặt với vấn đề nan giải là thanh khoản của các ngân hàng thương mại và lãi suất vẫn cao cho dù lạm phát giảm mạnh.
Nói về tăng trưởng trong năm 2012,  Tiến sỹ Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện kinh tế VN cho biết, di sản năm 2011 để lại  cho kinh tế VN là xu hướng giảm tốc tăng trưởng, lạm phát cao, thâm hụt thương mại và ngân sách nặng nề, đồng tiền yếu kém vẫn chưa có dấu hiệu chặn lại một cách chắc chắn. Kinh tế Việt Nam đang ở trong tình trạng đình trệ đi liền với lạm phát cao rất nguy hiểm.
Vì vậy cơ sở cho tăng trưởng 2012 yếu hơn so với các năm trước do khung chính sách để thực thi chống lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô rất hẹp, vì vậy mức tăng 6% -6,5% mà Chính phủ đề ra và Quốc hội thông qua chỉ là mục tiêu, chưa luận giải tính hợp lý. Với mức lạm phát dự kiến khoảng 9% thì tăng trưởng GDP hợp lý sẽ ở mức 5%.
Tiến sỹ Nguyễn Đức Thành, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu kinh tế và chính sách Đại học kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội) dự báo, lạm phát 2012 có thể giảm mạnh nhưng vẫn tiềm ẩn yếu tố rủi ro cao và không ổn định. Tiến sỹ Thành phân tích: Do nền kinh tế đang trong tình trạng đình trệ, khi lạm phát giảm xuống thấp sẽ có cơ hội để thúc đẩy tăng sản xuất, nhưng tiền bơm ra sẽ không chuyển hoá vào sản lượng mà nguy cơ đẩy lạm phát tăng cao, tạo ra sự không ổn định.
Tiến Sỹ Lê Xuân Nghĩa, Phó chủ tịch UB Giám sát tài chính Quốc gia, thừa nhận kinh tế Việt Nam đang trong tình trạng vừa lạm phát vừa đình đốn, vì vậy mà khung phát huy chính sách rất hạn hẹp. Nếu kích thích tăng trưởng thì chịu lạm phát cao mà hạn chế thì đình đốn sản xuất, rất khó có chính sách vẹn toàn vừa giảm lạm phát vừa thúc đẩy sản xuất.
Còn về lạm phát, ông Nghĩa cho rằng lạm phát năm 2012 do tác động của các chính sách thời gian qua, Chính phủ không cần làm gì nữa cũng sẽ xuống dưới 10%.
Thanh khoản ngân hàng vẫn khó khăn
Vấn đề kinh tế vĩ mô năm 2012  quan trọng nhất không có gì ngoài tính thanh khoản của các ngân hàng thương mại. Nếu không khắc phục được thanh khoản của các ngân hàng thì thì không hạ được lãi suất. Lãi suất không hạ sẽ không phục hồi được thị trường chứng khoán và bất động sản, như vậy sẽ không xử lý được nợ xấu, dẫn đến nợ xấu càng cam go do nằm phần lớn ở thị trường chứng khoán và bất động sản. Nợ xấu cao thì chi phí hoạt động của các ngân hàng tăng vì vậy cho dù lạm phát có giảm thì lãi suất không thể giảm và như vậy các DN sẽ vẫn gặp khó khăn, sản xuất đình trệ.
Nếu ngân hàng Nhà nước lại đi hạ trần lãi suất xuống còn 12% dân sẽ không gửi tiền, thậm chí các ngân hàng lớn sẽ bị người gửi tiền rút vốn, rủi ro thanh khoản cao.
Hiện tính thanh khoản của các ngân hàng thương mại đang rất căng thẳng các ngân hàng nhỏ gặp nhiều khó khăn ngân hàng lớn không tin tưởng không cho ngân hàng nhỏ vay vốn, ngân hàng nhỏ không có vốn để tồn tại cứ ra thị trường "chơi" với mức lãi suất huy động cao. Hiện nay lãi suất động đã phá trần 14% theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa cho biết lãi suất huy động trong những ngày gần đây đã được một số ngân hàng đẩy lên mức 19-20% một năm, cao hơn nhiều so với trần 14% mà Ngân hàng Nhà nước đang yêu cầu tuân thủ. Cá biệt, lãi suất huy động có lúc lên tới 21%.

Cùng với thị trường sơ cấp, vấn đề lãi suất cho vay lẫn nhau giữa các ngân hàng cũng trở nên căng thẳng. Theo Tiến sĩ Nghĩa thì ngoài các tài khoản cho vay, các nhà băng còn có thể lách luật tạo các khoản tiền gửi tại ngân hạng. Quan hệ lãi suất trong những trường hợp này hết sức phức tạp. "Cộng cả 2 tài khoản này thì số tiền các ngân hàng cho nhau vay hiện lên tới trên 500.000 tỷ đồng",
Ông Nghĩa cho biết Ngân hàng Nhà nước hy vọng sẽ giải quyết dứt điểm tình trạng căng thẳng thanh khoản của các ngân hàng trong quý 1/2012, nhưng đó là điều không tưởng, phải mất ít nhất là 6 tháng, thậm chí cả năm 2012 để giải quyết tình trạng này, ông Nghĩa nói.
Để giải quyết vấn đề này, theo Ủy ban giam sát Tài chính Quốc gia, là cần bơm tiền để giải quyết thanh khoản cho các ngân hàng gặp khó khăn lớn, tiếp theo là tăng dự trữ bắt buộc khiến cho nguồn vốn của các ngân hàng lớn chảy sang các ngân hàng nhỏ giúp giải quyết khó khăn cho ngân hàng nhỏ và cho phép xuất khẩu tài khoản vàng bởi lượng vàng các ngân hàng lưu giữ lớn (Với cách này cũng có thể có thêm 7-8 tỷ USD giúp các ngân hàng tăng thanh khoản).
Tuy nhiên, theo ông Phan Nam Kim, chuyên gia ngân hàng, Việt Kiều Thụỵ Sỹ thì căng thẳng thanh khoản là căn bệnh trầm kha của các ngân hàng thương mại Việt Nam, không phải mới xuất hiện mà có từ lâu. Căn nguyên của nó là dùng vốn vay ngắn hạn cho vay dài hạn. Muốn giải quyết vấn đề này phải giải quyết từ gốc, phải cân bằng thị trường vốn, tạo ra thị trường vốn vững chắc cho các ngân hàng. Hiện lãi suất vay dài hạn không dựa trên tiêu chí nào. Lãi suất huy động ngắn hạn lại cao hơn huy động dài hạn thì ai muốn đầu tư, ông Kim đặt câu hỏi.
Còn theo ông Bùi Ngọc Sơn, Viện kinh tế chính trị thế giới, căng thẳng thanh khoản của ngân hàng đã có từ nhiều năm nay.Việc cung cấp tín dụng từ ngân hàng cho thị trường chứng khoán và bất động sản thời gian qua phải nói là rất bừa bãi. Nếu cứ cung ứng tiền và cho các ngân hàng bán vàng, tiền lại hút sang bất động sản và chứng khoán, mà 2 thị trường này thì cần rất nhiều tiền và như vậy khó khăn về thanh khoản lại tiếp diễn.
Theo ông Sơn không thể cung ứng tiền và cho ngân hàng bán vàng mà cần phải thanh lọc cái gì cần cứu và cái gì chấp nhận bỏ. Sau đó phải sắp sếp lại thị trường chứng khoán và nhất là bất động sản. Tại Việt Nam hiện nhà ở 99% là người dân mua đứt, các chế tài về thuế không có, mua nhà đất "bỏ lọ", tài sản không được lưu thông  bình thường,  bỏ không sau đó đẩy tiền vào kích giá lên rồi bán ra, người có nhu cầu thực không mua được, chỉ có giới đầu cơ "luộc nấu" lẫn nhau.

Những thất bại chết người của Kodak


Việc Kodal dự định nộp đơn xin bảo hộ phá sản thể hiện cho sự thay đổi hoàn toàn với một công ty từng thống trị ngành công nghiệp này, tạo ra hàng nghìn bước đột phá trong công nghệ hình ảnh. Thực chất Kodak đã vấp phải những thất bại chết người.

Thất bại 3: Nghịch lý giữa Thị trường & Nguồn lực trong chiến lược
Nguồn lực thực sự của lợi thế cạnh tranh là gì? Liệu một công ty có nên tái định vị mình để nắm được những lợi thế của một thị trường đang thay đổi hay nên bám chặt vào những nguồn lực tự nhiên của mình. Các tổ chức nên phân tích những khía cạnh đa dạng của mối quan hệ giữa các nguồn lực và các hoạt động tồn tại trong một công việc kinh doanh.
Kodak đã thất bại trong việc tham chiếu chiến lược của mình với điều đó.
Vấn đề có vẻ đơn giản, Kodak có năng lực trong phim và giấy, hóa chất và xử lý ảnh nhưng thời đại công nghệ mới lại khác: nó dựa vào công nghệ. Không phải là lần đầu tiên Kodak cố gắng tìm một tương lai cho mình vượt khỏi việc kinh doanh phim cốt lõi của mình. Bằng việc áp dụng quan điểm dựa vào thị trường, Kodak lựa chọn mở rộng sản phẩm trong một nỗ lực chuyển đổi từ từ thành một công ty thời đại kỹ thuật số mới.
Khi thị trường thay đổi nhanh chóng xung quanh Kodak, công ty bắt đầu xem xét chức năng nào cần phát triển để hỗ trợ những nhu cầu mới dựa trên thị trường của người tiêu dùng. Cấu trúc thị trường đã thay đổi và Kodak, cùng với những nhà sản xuất phim truyền thống khác muốn có được một phần của mảng thị trường người sử dụng cuối cùng.
Fuji là một đối thủ của Kodak trên thị trường rửa ảnh truyền thống
Với việc hơn nửa các công ty với mô hình tài chính lưỡi dao cạo truyền thống nhanh chóng biến mất với sự suy giảm doanh số liên tục từ phim, thế giới hậu công nghệ bạc-halogen mới phụ thuộc vào việc thuyết phục thị trường số đông sang in ấn bản cứng của các bức ảnh kỹ thuật số. Kết quả là những người sản xuất màn hình (ví dụ HP, Canon, Epson, Dell, Lexmark), các đối thủ cạnh tranh internet (như Snapfish và Shutterfly) và các nhà rửa ảnh truyền thống (Fuji, Agfa, Konica Minolta) phải cạnh tranh để thiết lập vị thế người đi đầu phong trào in kỹ thuật số trên thị trường vào năm 2005.
Phương pháp dựa vào thị trường trong kỷ nguyên mới này phụ thuộc nặng nề vào việc chiến thắng một cuộc cạnh tranh không phù hợp với khả năng cạnh tranh và linh hoạt của công ty trên thị trường. Trong khi miếng bánh rửa ảnh truyền thống vẫn được phân chia giữa Kodak và Fuji nắm phần đa số, vẫn có hơn hàng tá các công ty khác với khả năng tài chính/quy mô và những mảng kỹ thuật chuyên môn khác tìm kiếm nắm bắt thị phần của họ từ cơ hội rửa ảnh kỹ thuật số.
Thất bại 4: Cạnh tranh và Hợp tác: Vấn đề M&A đau đầu của Kodak
Làm thế nào một tổ chức nên phản ứng với đối thủ cạnh tranh là một nghịch lý giữa cạnh tranh và hợp tác. Việc sử dụng chiến lược mạng lưới của Kodak đã được mở rộng. Kodak đã bận rộng trong một nỗ lực nhằm tái tổ chức một cách triệt để và phátt riển các năng lực mới thông qua việc mua lại và thoái vốn.
Chỉ trong năm 2004, Kodak đã hoàn thành việc mua lại Scitex Digital Printing và bán hệ thống viễn thám cho ITT Industries.
Kodak cũng thành lập quan hệ đối tác chiến lược với Verizon Wireless theo đó dịch vụ di động Kodak luôn cung cấp sẵn cho Verizon Wireless. Về sau, công ty cũng mua lại quyền bỏ phiếu trong Chinon Industries, thông qua chi nhánh Nhật Bản, và cũng hoàn thành việc mua lại hai đơn vị kinh doanh từ Heidelberger Druckmaschinen với 50% cổ phần tại Nexpress Solutions và cổ phần tại Heidelberg digital.
Mảng hình ảnh của Kodak cũng không bị bỏ quên sau  khi ký thỏa thuận cấp vốn toàn cầu với GE vào tháng 8 năm 2004. Trong một nỗ lực nhằm ứng phó với thời đại công nghệ thông tin di động, Kodak đạt một thỏa thuận với Cingular Wireless và Nokia để phát triển dịch vụ cho điện thoại di động với máy ảnh và mua lại Algotec System,...
Mỗi một trong những tổ chức khác nhau này đã bị mua lại trong một nỗ lực nhằm điều chỉnh hoặc xây dựng lại năng lực trong những lĩnh vực mới mà công ty cho là quan trọng với tương lai ngành công nghiệp ảnh.
Tuy nhiên những mong muốn và những thay đổi nhanh chóng này có giá của chúng. Phản ứng tự nhiên của Kodak sau khi công bố rằng công ty sẽ theo đuổi thời đại kỹ thuật số đã đi quá xa thành một cuộc chi tiêu mạnh tay lãng phí nhằm hấp thụ càng nhiều chức năng mới càng tốt. Điều này không chỉ làm sứt mẻ luồng tiền và giảm sức hấp dẫn với các nhà đầu tư mà còn là điển hình cho một biện pháp dại dột trong việc đuổi kịp thị trường.
Những nỗ lực M&A điên cuồng của Kodak đã khiến cho công ty không bao giờ biết nên làm đối tác với ai là cần thiết và sự phực tạp trong việc tái cơ cấu đã khiến cho Kodak chậm nhịp trong việc khẳng định sự hiện diện của mình trên thị trường.
Sự suy tàn và sụp đổ của Eastman Kodak là sự thất bại của các nhà lãnh đạo trong việc phát triển các lĩnh vực đệm phù hợp để duy trì được sự cạnh tranh từ việc bắt chước và sao chép không phù hợp chiến lược của mình và để phù hợp một cách hiệu quả với các nguồn lực và năng lực của mình với các cơ hội mới - một thất bại kinh doanh cuối cùng dẫn đến sự sụp đổ và đệ đơn xin phá sản là điều khó tránh khỏi.

Kodak: Hành trình đi đến ...phá sản!


Trong nhiều năm, cái tên Kodak đồng nghĩa với ảnh nhưng sau 131 năm, Eastman Kodak chuẩn bị phai nhạt trong lịch sử. Điều gì đã xảy ra? Các báo cáo gần đây cho thấy tình hình rất u ám và việc phá sản có thể là không tránh khỏi. Vậy thực chất, Kodak đã phạm sai lầm gì?

Eastman Kodak Co. đang chuẩn bị xin bảo hộ phá sản trong những tuần tới, một động thái có thể hạn chế sự tụt dốc cho một công ty từng đứng trong hàng ngũ những công ty khổng lồ của Mỹ. Công ty 131 năm tuổi này vẫn đang thực hiện những nỗ lực cuối cùng để bán một số bằng sáng chế và có thể tránh khỏi đệ đơn xin bảo hộ phá sản theo Chương 11, luật phá sản nếu thành công.
Tuy nhiên, công ty đã bắt đầu việc chuẩn bị cho việc đệ đơn trong những hợp những nỗ lực này thất bại, gồm cả việc thảo luận với các ngân hàng về việc cấp tài chính khoản 1 tỷ USD để công ty có thể hoạt động trong suốt quá trình phá sản.
Việc Kodal dự định nộp đơn xin bảo hộ phá sản thể hiện cho sự thay đổi hoàn toàn với một công ty từng thống trị ngành công nghiệp này, thu hút các thiên tài kỹ sư từ trên khắp đất nước tới trụ sở của công ty tại Roschester, New York và bơm tiền vào nghiên cứu tạo ra hàng nghìn bước đột phá trong hình ảnh và các công nghệ khác.
Năm 1880, sau khi phát minh và xin cấp bằng sáng chế cho công thức đĩa phim khô và chiếc máy chuẩn bị số lượng lớn các đĩa phim, George Eastman đã thành lập công ty Eastman Kodak.
Đến năm 1884, Kodak đã trở thành cái tên quen thuộc với các hộ gia đình sau khi nó thay thế các tấm ảnh kính bằng phim cuộn, một sản phẩm thân thiện với người sử dụng, được nhấn mạnh trong chiến lược marketing đầu tiên sử dụng câu slogan "Bạn ấn nút và chúng tôi làm phần còn lại."
Ông George Eastman, trái, và nhà phát minh lừng lẫy Thomas Edison, với phát minh về máy ảnh. (Ảnh WSJ)
Eastman sau này định hình các nguyên tắc của Kodak như: sản xuất hàng loạt với chi phí thấp, phân phối quốc tế, mở rộng quảng cáo, tập trung vào khách hàng và tăng trưởng thông qua nghiên cứu không ngừng. Ngoài ra, ông cũng nói rõ triết lý cạnh tranh của Kodak, "Không có gì quan trọng hơn giá trị của thương hiệu của chúng tôi và giá trị mà nó đại diện. Chúng tôi coi chất lượng là lý lẽ cạnh tranh."
Với sự ra đời của công nghệ màu, câu chuyện thành công tiếp diễn vì công ty đã đầu tư mạnh vào nghiên cứu và phát triển và đến năm 1963 Kodak đã trở thành chuẩn mực của ngành. Doanh số hàng đầu đạt 1 tỷ USD bằng việc tung ra các dòng sản phẩm mới như máy ảnh và hình ảnh y tế và nghệ thuật đồ họa, nhanh chóng đưa doanh số đạt tới 10 tỷ USD năm 1981.
Hiện nay, các hoạt động chủ yếu của Eastman Kodak chủ yếu tập trung vào sự phát triển, sản xuất và tiếp thị các sản phẩm và dịch vụ tiêu dùng, chuyên nghiệp, y tế và các sản phẩm và dịch vụ hình ảnh khác.
Kodak từng hoạt động trên ba mảng chính: Mảng hình ảnh kỹ thuật số và phim cung cấp các sản phảm kỹ thuật số và truyền thống và dịch vụ ảnh định hướng khách hàng. Mảng y tế cung cấp những sản phẩm chuẩn đoán như phim y tế, hóa chất và các thiết bị xử lý và dịch vụ và các thiết bị kỹ thuật số bao gồm PACs, RIS, tia x kỹ thuật số, ...Mảng truyền thông đồ họa cung cấp máy in phun, máy scan tốc độ cao, hệ thống ảnh kỹ thuật số và các sản phẩm nhằm vào thị trường in thương mại.
Công ty đã phát minh ra máy ảnh kỹ thuật số đầu tiên của thế giới nhưng lại trì hoãn việc tham gia thị trường vì e sợ rằng sẽ ảnh hưởng đến doanh thu từ máy in đầy lợi nhuận của mình.
Những khó khăn của Kodak bắt đầu từ những năm 1980 khi thị phần của công ty rơi vào tay các đối thủ cạnh tranh nước ngoài. Sau đó, công ty phải đối đầu với làn sóng ảnh kỹ thuật số và điện thoại thông minh.
Kể từ cuối những năm 1990, Kodak đã phải vật lộn về tài chính do sự sụt giảm doanh số bán hàng của phim ảnh. Kodak bật trở lại vào những năm 2000 bằng việc cam kết trở thành người đứng đầu về máy ảnh kỹ thuật số.
Một poster quảng cáo của Kodak những năm 1940
Năm 2005, công ty đứng đầu Mỹ về doanh số máy ảnh kỹ thuật số. Nhưng lợi nhuận từ máy ảnh kỹ thuật số không nhiều và CEO của Kodak antonio Perez, người gọi máy ảnh kỹ thuật số là một "việc kinh doanh không hấp dẫn" cố gắng để định vị Kodak là người đứng đầu trong mảng in ấn và chia sẻ ảnh kỹ thuật số nhưng hóa ra đây lại là hai mảng thị trường khó nhằn. Kodak bị thua lỗ mỗi năm và năm 2007 là năm gần nhất mà công ty thu được lợi nhuận. Là một phần của chiến lược thay đổi hoàn toàn, Kodak tập trung vào ảnh kỹ thuật số và in kỹ thuật số.
Vào cuối những năm 2000, Kodak cũng chuyển sang các vụ kiện sáng chế và giao dịch cấp phép để tạo ra doanh thu. Vấn đề của công ty lên tới đỉnh điểm vào năm 2011 khi chiến lược sử dụng các vụ kiện sáng chế và giao dịch cấp phép để huy động tiền đã khai thác hết nguồn lực sáng chế to lớn của công ty.
Các báo cáo gần đây cho thấy tình hình rất u ám và việc phá sản có thể là không tránh khỏi.
Vậy thực chất, Eastman Kodak đã phạm sai lầm gì?
Thất bại 1: Kodak đã bỏ lỡ thời đại công nghệ thông tin
Có thể nói rằng bước quan trọng nhất trong bất kỳ chiến lược nào là sự lựa chọn mang tính chiến lược của phương pháp đầu tiên. Ngay từ những giai đoạn đầu trong lịch sử công ty, Kodak đã áp dụng chiến lược tư duy hợp lý với việc sản xuất và doanh số của máy ảnh và phim. Kodak sử dụng chiến lược lưỡi dao cạo: công ty bán máy ảnh với giá thấp và phim tiếp sức cho tăng trưởng và lợi nhuận của Kodak khiến cho việc kinh doanh trở nên phụ thuộc nặng nề vào lợi nhuận cao từ phim và ngày càng ít chú ý đến thiết bị.
Khó khăn xuất hiện vào năm 1984 khi công ty Nhật Bản Fuji xâm lấn thị phần của Kodak với việc khách hàng chuyển sang sản phẩm của họ sau khi Fuji tung ra phim màu với giá rẻ hơn 20% của Kodak. Phản ứng của Kodak là "họ không tin người dân Mỹ sẽ mua một loại phim khác."
Thứ hai, khi cuối những năm 1980 mở ra một triển vọng mới về kinh doanh cho Kodak, công ty đã thất bại trong việc nhìn nhận những thay đổi ở phía trước. Thay vào đó, Kodak hầu như cam kết với việc tự tự bằng việc gắn bó với một mô hình kinh doanh không còn hiệu quả trong thời đại hậu kỹ thuật số. Và khi thay đổi xảy ra, vấn đề của Kodak là quá ít quá muộn khi Daniel A. Carp, CEO của Kodak vào thời điểm đó có được khoảnh khắc thông suốt mà các nhà phân tích lúc đó chế nhạo là "kế hoạch chiến lược đột ngột hiển linh" đưa ra vào cuối tháng 9/2003 thay thế các phim tráng bạc, công việc kinh doanh cốt lõi của Kodak, bằng công nghệ kỹ thuật số lúc này đã phát triển đủ lông đủ cánh.
Kodak thiếu sự sáng tạo chiến lược dẫn đến việc hiểu sai dòng công việc và ngành nghề mà mình đang hoạt động khiến công ty không nắm bắt được sự thay đổi cơ bản hướng tới thời đại kỹ thuật số. Thay vì mạo hiểm bước vào một lĩnh vực mới đầy triển vọng, công ty lại bảo toàn mình với những quy trình và chính sách nhằm duy trì nguyên lợi nhuận cũ.
Kodak có lúc nắm đến 90% thị phần phim chụp ảnh của thế giới

Thất bại 2: Thời điểm then chốt đòi hỏi biện pháp then chốt
Ngay cả khi đã xây dựng được chiến lược kinh doanh thì vẫn có sự khác biệt về việc làm thế nào để thực hiện sự thay đổi chiến lược tốt nhất. Thay đổi là điều duy nhất xảy ra không ngừng trong cuộc sống và vì vậy các nhà quản lý cần pháp nắm bắt chính xác làm thế nào để thực hiện những thay đổi chiến lược. Trường hợp của Kodak đã minh chứng cho việc áp dụng biện pháp sai có thể tàn phá khả năng thích ứng với thay đổi của doanh nghiệp như thế nào.
Thị trường của Kodak trở nên báo động vào đầu những năm 1981 khi sony tuyên bố tung ra Mavica, máy ảnh kỹ thuật số không phim có thể hiển thị hình ảnh trên màn hình ti vi và các bức ảnh có thể được in ra trên giấy. Mặc dù các nhà quản lý quan tâm hơn tới tuổi thọ của công nghệ bạc-halogen và "nó mang sợ hãi đến toàn công ty", nhiều người vẫn thấy khó tin vào một cái gì đó không mang lại nhiều lợi nhuận như phim truyền thống.
CEO của Kodak đồng ý rằng nhịp độ thay đổi công nghệ đòi hỏi Kodak hành động nhanh hơn nhưng vẫn tin vào tương lai của công nghệ bạc-halogen nơi Kodak có thể "phù hợp với công nghệ mới."
Thời đại kỹ thuật số đã làm rung động ngành công nghiệp chụp ảnh nhưng Kodak lại thất bại trong việc đưa ra những thay đổi mang tính quyết định. Sau 35 năm làm việc lại Kodak và 5 năm làm CEO, Daniel A. Carp ngầm thừa nhận điều hiển nhiên rằng: mặc dù ông đã xác định được mối đe dọa chí mạng từ công nghệ kỹ thuật số với công ty 131 tuổi này, ông đã hành động quá chậm chạp và quá muộn.
Những cột mốc của Kodak
1880 - Ông George Eastman bắt đầu sản xuất thương mại các tấm phim khô để chụp ảnh trong một gác xép thuê của một tòa nhà ở Rochester, New York.
1888 - Cái tên "Kodak" ra đời và máy ảnh hiệu Kodak được tung ra thị trường với "Bạn chỉ việc bấm, chúng tôi làm phần còn lại"
1889 - Công ty Eastman thành lập.
1892 - Công ty đổi tên thành Eastman Kodak Company of New York.
1900 - Máy ảnh Brownie được giới thiệu lần đầu tiên với giá chỉ 1 USD và dùng cuộn phim giá 15 xu.
1929 - Kodak lần đầu tiên giới thiệu phim nhựa dùng cho ngành điện ảnh.
1935 - Phim màu Kodachrome được tung ra, và đây là phim màu thành công nhất của hãng.
1951- Máy quay phim 8mm Brownie giá rẻ được giới thiệu, tiếp theo là máy chiếu phim Brownie tung ra năm 1952.
1962 - Kodak vượt doanh thu 1 tỉ USD lần đầu tiên, nhân công của hãng lên đến 75.000 người.
1963 - Kodak giới thiệu máy ảnh Instamatic dùng một lần với phim gắn sẵn bên trong, loại này đã bán được hơn 50 triệu cái tính đến năm 1970.
1972 - Năm loại máy ảnh dùng một lần loại bỏ túi Instamatic được đưa ra thị trường, chỉ trong 3 năm đã bán đến 25 triệu cái.
1975 - Kodak lần đầu tiên trên thế giới phát minh máy ảnh kỹ thuật số, ban đầu chụp với kỹ thuật ảnh trắng đen với độ phân giải khá thấp, chỉ 10.000 pixel.
1981 - Lần đầu tiên Kodak vượt doanh số 10 tỉ USD.
1984 - Kodak xâm nhập thị trường băng video với hệ thống chiếu video 8mm, Kodavision Series 2000, giới thiệu băng video cassette 8mm Kodak theo chuẩn Beta và VHS, sản xuất cả đĩa mềm máy tính.
1988 - Nhân công toàn cầu của hãng đạt 145.300 người
1992 - Kodak phát hành đĩa CD có thể ghi được.
2003 - Tung ra máy in ảnh Kodak Easyshare printer dock 6000.
2004 - Kodak bắt đầu chuyển sang công nghệ phim ảnh kỹ thuật số, khó khăn bắt đầu đến, sa thải hàng chục ngàn nhân công.
2008 - Kodak bắt đầu khai thác danh mục đầu tư bằng sáng chế của mình, mang lại gần 2 tỉ USD trong vòng 3 năm.
2010 - Kodak kiện Apple và RIM (Research in Motion) về việc hai hãng này sử dụng trái phép công nghệ của Kodak trên máy ảnh dùng trong điện thoại thông minh của họ. Nhân công toàn cầu của Kodak giảm còn 18.800 người.
Tháng 7/2011: Kodak bắt đầu tiếp thị để bán 1.100 bằng phát minh liên quan đến công nghệ hình ảnh kỹ thuật số.
Tháng 9/2011: Kodak thuê hãng luật Jones Day để tư vấn phá sản và tái cấu trúc doanh nghiệp.
Tháng 12/2011: Toà án phán quyết dời vụ kiện tụng liên quan công nghệ máy ảnh sang năm 2012.
(Tổng hợp)

Monday, 9 January 2012

Ba kịch bản tăng trưởng kinh tế năm 2012


Ba kịch bản tăng trưởng kinh tế năm 2012

ANH QUÂN


Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia nghiêng về khả năng tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2012 có thể đạt từ 5,6-5,9% - Ảnh: Getty



Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia vừa phát hành báo cáo “Triển vọng kinh tế 2012-2013”, trong đó đáng chú ý là 3 kịch bản tăng trưởng dự kiến cho năm nay.

Dựa trên những phân tích về tình hình kinh tế vĩ mô thời gian qua, đánh giá những nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng và lạm phát trong thời gian tới, Ủy ban này cho rằng tăng trưởng GDP năm 2012 ở mức trên 6% là khó đạt, trong khi các mức thấp hơn sẽ giúp cho tăng trưởng không vượt quá sản lượng tiềm năng, dễ gây lạm phát.


Đề cập đến một số nét chủ đạo, báo cáo cho rằng nền kinh tế sẽ có dấu hiệu khả quan hơn vào nửa sau năm 2012 nhờ hiệu ứng của việc cải thiện ổn định kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, các doanh nghiệp dự báo sẽ còn gặp không ít khó khăn trong những tháng đầu năm 2012; các thị trường bất động sản, chứng khoán tiếp tục trầm lắng trong những quý đầu năm. 



Về lạm phát, các tính toán cho thấy chỉ tiêu này sẽ được kiểm soát khá tốt (dưới 10%), cùng với tỷ lệ nhập siêu được kiềm chế (dưới 10% kim ngạch xuất khẩu), tạo điều kiện để giảm sức ép tỷ giá, cân bằng cung cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối. Ủy ban dự báo tỷ giá VND sẽ được điều chỉnh trong khoảng 5-6%. 



Trong khi đó, ngân hàng sẽ tiếp tục đối mặt với những khó khăn về thanh khoản và nợ xấu trong suốt những tháng đầu năm 2012. Nhưng nếu vấn đề thanh khoản sớm được giải quyết, lãi suất ngân hàng sẽ giảm được khoảng 4% (lãi suất tiền gửi kỳ hạn 1 năm khoảng 11% và lãi suất cho vay dao động khoảng 14%).



Đối với hoạt động ngoại thương, do thương mại toàn cầu được dự báo giảm về khối lượng và giá cả, Ủy ban cho rằng kế hoạch tăng kim ngạch xuất khẩu 12-13% của Việt Nam sẽ là thách thức không nhỏ. 



Tuy nhiên, ảnh hưởng của thương mại thế giới sẽ tác động đến cả xuất khẩu và nhập khẩu, đồng thời chính sách kiểm soát nhập khẩu của Việt Nam tiếp tục được duy trì trong năm 2012 nên xuất khẩu ròng của Việt Nam dự báo sẽ tiếp tục được cải thiện. Nhờ vậy, nhập siêu dự báo sẽ ở mức dưới 10% kim ngạch xuất khẩu.



Kịch bản tốt: Tăng trưởng vượt 6% khó khả thi



Với tình hình kinh tế thế giới khả quan, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam dự báo tăng từ 12-13%; trong khi kim ngạch nhập khẩu dự báo tăng 13-14%; tỷ lệ nhập siêu/xuất khẩu đạt khoảng 11-12% vào năm 2012, tăng so với tỷ lệ 9,9% năm 2011.



Khi nền kinh tế toàn cầu duy trì được mức tăng trưởng, nguồn vốn đầu tư FDI vào Việt Nam được dự báo duy trì ở mức tương đương năm 2011. Vốn FDI dự kiến chiếm khoảng 23% tổng mức đầu tư toàn xã hội, tương đương khoảng 230 nghìn tỷ đồng. 



Tổng hợp các yếu tố cấu phần GDP như tiêu dùng nội địa, xuất nhập khẩu và đầu tư, với giả định các nhân tố khác không đổi, tính toán cho thấy với tổng mức đầu tư toàn xã hội tương đương 33,5-33,9% GDP (mức kế hoạch đã được phê chuẩn), tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2012 có thể đạt từ 6-6,3% nếu hiệu suất đầu tư của nền kinh tế có sự cải thiện đáng kể. 



Nhưng, nếu không có sự thay đổi về công nghệ để tăng năng suất, hiệu quả thì cần tăng tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực kinh tế dân doanh từ 35,2% năm 2011 lên khoảng 43% tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2012 và giảm tỷ lệ đầu tư khu vực kinh tế nhà nước từ mức 38,9% năm 2011 xuống còn 34% tổng vốn đầu tư toàn xã hội vào năm 2012.



Với tốc độ tăng trưởng GDP từ 6-6,3%, lạm phát duy trì ở mức 8-10% và mức bội chi ngân sách được thông qua cho năm 2012 ở mức 4,8% GDP, theo tính toán của Ủy ban giám sát, nợ công Việt Nam năm 2012 dự kiến đạt mức 58,2-58,8% GDP.



Tuy nhiên ở kịch bản này, Ủy ban cho rằng để điều chỉnh cơ cấu đầu tư như trên là một thách thức rất lớn. Bởi vì, muốn tăng tỷ trọng đầu tư của khu vực dân doanh từ 35,2% của năm 2011 lên tới 43% tổng đầu tư toàn xã hội vào năm 2012, theo tính toán của Ủy ban, tăng trưởng tín dụng cần đạt trên 25%, cao hơn nhiều so với định mức tăng tín dụng từ 15-17% để kiểm soát lạm phát từ 8-10%. 



Trong khi đó, để đảm bảo an sinh xã hội và tạo nền tảng cho phát triển kinh tế giai đoạn sau, Việt Nam cần tiếp tục quan tâm đầu tư hạ tầng cơ sở, đặc biệt là khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Vì vậy, khó có thể giảm tỷ trọng đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước từ mức 38,9% tổng đầu tư toàn xã hội năm 2011 xuống chỉ còn 34% ngay trong năm 2012. 



“Như vậy, trong điều kiện chưa tạo được bước đột phá công nghệ để tăng năng suất, hiệu quả đầu tư kinh tế, nếu năm 2012 không có những đột biến về nguồn huy động vốn sản xuất thông qua nguồn huy động vốn khác ngoài kênh tín dụng, vốn tự có của doanh nghiệp, thì khả năng tăng trưởng GDP ở mức 6-6,3% là khó đạt được”, Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia nhìn nhận. 



Kịch bản trung bình: GDP có thể đạt 5,6-5,9%



Ở kịch bản trung bình, giả định đặt ra là sản lượng nền kinh tế thế giới giảm khoảng 1%, tác động làm thương mại giảm khoảng 3-4% so với 2011. Ảnh hưởng đến Việt Nam, tốc độ tăng trưởng xuất, nhập khẩu của nước ta năm 2012 dự báo đạt tương ứng 8-9% và 7-8%, tỷ lệ nhập siêu/xuất khẩu theo đó đạt từ 7-8%. 



Trong khi đó, lượng vốn FDI vào Việt Nam dự báo sẽ thấp hơn một chút so với kịch bản tốt, chỉ chiếm từ 22-22,5% tổng mức đầu tư toàn xã hội. 



Với các dữ liệu trên, cùng với cơ cấu đầu tư khu vực kinh tế nhà nước chiếm 36,5-37% và khu vực kinh tế dân doanh chiếm 40,5-41% tổng đầu tư toàn xã hội, mô hình tính toán của Ủy ban cho thấy, tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2012 có thể đạt từ 5,6-5,9%.



Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia cho rằng, đây là kịch bản có nhiều khả năng nhất và các chỉ số, các cân đối cũng mang tính khả thi nhất, mức tăng trưởng này cũng tương đối sát với mức sản lượng tiềm năng hiện tại của Việt Nam.



Ở kịch bản này, mô hình tính toán về quan hệ giữa tăng trưởng GDP, bội chi ngân sách và nợ công cho kết quả, với tỷ lệ bội chi ngân sách ở mức 4,8% GDP, nợ công Việt Nam năm 2012 sẽ đạt mức 58,8-59,2% GDP.



Kịch bản xấu: GDP chỉ đạt 5,2-5,5%



Nhưng với giả định trường hợp xấu nhất, kinh tế thế giới có khả năng rơi vào suy thoái và đạt mức tăng trưởng dưới 2,4%; thương mại thế giới tăng ở mức dưới 3% về khối lượng và giá cả có thể giảm sâu hơn mức dự báo 10% sẽ tác động mạnh đến tăng trưởng kinh tế cũng như tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam. 



Dự báo trong trường hợp này, kim ngạch xuất khẩu chỉ tăng từ 5-6% so với năm 2011. Trong khi đó, nhiều khả năng Chính phủ sẽ phải điều chỉnh chính sách vĩ mô, tăng đầu tư nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, ngăn chặn suy giảm kinh tế, nên chính sách có phần nới lỏng hơn và vì thế nhập khẩu dự báo tăng 5-6%. Theo đó, tỷ lệ nhập siêu/xuất khẩu vào khoảng 9-10%. 



Tương ứng, nguồn vốn FDI vào Việt Nam ước chỉ đạt khoảng 10 tỷ USD, tương đương khoảng 21% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Lạm phát dự báo sẽ giảm còn 8-9%.



Ủy ban lưu ý rằng, trường hợp suy thoái kinh tế thế giới như tại kịch bản xấu có thể khuếch đại những điểm yếu nội tại của nền kinh tế Việt Nam, như đã từng xảy ra trong cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2008-2009. 



Bởi vậy, khi khả năng này xảy ra, Ủy ban khuyến nghị cần duy trì đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước nhằm đảm bảo tốc độ tăng trưởng cho nền kinh tế, giảm tối đa những tác động tiêu cực từ bên ngoài. Theo đó, tỷ trọng đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước cần duy trì ở mức tương đương năm 2011 (38,9%), tỷ trọng đầu tư của khu vực kinh tế dân doanh khoảng 40%.



Với những giả định như trên, tính toán của Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia cho thấy, tăng trưởng GDP của Việt Nam chỉ đạt từ 5,2-5,5%.



Kết hợp với tỷ lệ bội chi ngân sách của năm 2012 được thông qua là 4,8% GDP, tính toán của cho thấy, nợ công của Việt Nam năm 2012 sẽ ở mức 59,8-60,4% GDP.



“Trưởng hợp kinh tế thế giới diễn biến bất lợi và thật sự rơi vào suy thoái sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam không chỉ năm 2012 mà cả trong những năm tiếp theo... Việt Nam cần có biện pháp để chủ động đối phó với nguy cơ này”, Ủy ban lưu ý.



Các giải pháp cụ thể, theo Ủy ban, là cần thay đổi định hướng chính sách theo hướng linh hoạt hơn nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp, tăng an sinh xã hội; nghiên cứu khả năng triển khai gói kích thích kinh tế với những tính toán kỹ lưỡng về quy mô, liều lượng, đối tượng thụ hưởng…

Lạm phát 2012 “không làm gì cũng xuống”


Lạm phát 2012 “không làm gì cũng xuống”

ANH QUÂN

pictureNền kinh tế đang rơi vào thế “kẹt”, để kiểm soát lạm phát, nếu thắt chặt chính sách sẽ dẫn tới đình đốn sản xuất, nhưng nếu kích thích kinh tế và dùng đòn bẩy tài chính hỗ trợ thì lại ngay lập tức dẫn đến lạm phát.



























Với chỉ tiêu lạm phát năm 2012 ở mức dưới 10%, Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia Lê Xuân Nghĩa cho rằng, “cứ đắp chiếu ngủ, không làm gì cũng xuống”.

Trong góc nhìn của ông, từ cơ sở chính sách thắt chặt tại Nghị quyết 11 kéo dài sang năm nay, cùng với giá cả trên thế giới giảm xuống, nhập siêu dự báo sẽ tiếp tục ở mức thấp, tỷ giá sẽ không có điều chỉnh lớn…, kinh tế Việt Nam dường như không có gì đáng nguy ngại.

Nhiều vị chuyên gia kinh tế tham dự buổi tọa đàm “Triển vọng kinh tế 2012: Cơ hội và thách thức” do Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia tổ chức ngày 9/1 cũng chia sẻ quan điểm của ông Nghĩa. 

Bởi lẽ, năm 2012, nền kinh tế Việt Nam khởi động với một nền tảng lạm phát tương đối ổn định, mức tăng CPI theo tháng của tháng 12/2011 rất thấp so với nhiều năm gần đây. Trong khi đó, tỷ giá, nỗi lo luôn thường trực cùng lạm phát, cũng khá ổn định kể từ cuối năm ngoái.

Trong khi đó, đánh giá tác động từ thị trường thế giới, nhiều tổ chức gần đây cho rằng, giá thương mại hàng hóa nói chung trong năm 2012 có thể giảm khoảng 10% so với năm 2011. TS. Nguyễn Đức Thành, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR) lưu ý rằng, đây là “bệ đỡ” cho lạm phát có thể không tăng mạnh trong năm 2012 này.

Lưu ý về vấn đề tỷ giá, Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia cho rằng, VND so với USD hiện đang đắt hơn khoảng 20%. Tuy nhiên, cũng nguồn tin này cho biết, nếu so sánh trong rổ tiền tệ của 19 thị trường có quan hệ thương mại lớn với Việt Nam, con số chỉ còn là 5%.

Ở điểm này, TS. Nguyễn Đức Thành thêm rằng, với thặng dư cán cân thanh toán khoảng 3 tỷ USD trong năm 2011, và dự kiến tiếp tục thặng dư trong năm nay, sẽ là cơ sở để giữ ổn định tỷ giá. 

Chia sẻ quan điểm này, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) Võ Trí Thành nêu một số dự báo của các tổ chức quốc tế rằng, giá đồng nội tệ trong năm nay sẽ khó vượt quá mức 22.000 đồng/USD, tức là phá giá khoảng 4-5% so với năm 2011.

Theo tính toán của Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia, trong khoảng 6 tháng đầu năm 2012, CPI có thể chỉ tăng khoảng 3-4%, nếu như loại trừ yếu tố biến động do điều chỉnh tỷ giá. Chủ tịch Ủy ban Vũ Viết Ngoạn khẳng định, CPI cả năm ở mức dưới 10% là khả thi.

Nhưng, có nên lạc quan với lạm phát đã thấp hay không? TS. Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho rằng, mới chỉ có thể “rung đùi nhẹ”. Nhiều dẫn chứng được đưa ra tại buổi tọa đàm cho thấy nền kinh tế chưa phải đã hết rủi ro.

Sau 4 năm bất ổn liên tục, đặc biệt là lạm phát không những cao mà còn dao động mạnh, TS. Nguyễn Đức Thành cho rằng, đây là biểu hiện của việc không thể kiểm soát được lạm phát. 

Kể từ năm 2007, cùng giai đoạn Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), lạm phát của Việt Nam liên tục tăng cao và biến động rất bất thường với hai lần tiến sát mức 20%. “Năm nay dự kiến lạm phát do đặc thù có thể đạt khoảng 10%, nhưng tôi cho là tiềm ẩn dao động khó kiểm soát”, TS. Nguyễn Đức Thành bình luận thêm.

Quan điểm của ông Thành được Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam lý giải. Theo ông Trần Đình Thiên, cơ sở chính sách để ổn định vĩ mô, chống lạm phát hiện nay đã yếu đi. Ông cho rằng, dư địa để ổn định cho năm 2012 thậm chí đã khó hơn nhiều.

Lãi suất đã “găng” quá lâu nhưng chưa thể rút tiền khỏi lưu thông một cách hiệu quả. Trong khi đó, tăng trưởng tín dụng và cung tiền trong năm 2011, nếu loại trừ yếu tố giá đã âm khá lớn so với tăng trưởng GDP thực tế, dẫn tới thiếu tiền cục bộ cho sản xuất. 

Chính sách tài khóa thu quá cao so với tình hình thực tế doanh nghiệp khó khăn hơn, nhưng chi tiếp tục “ra” mạnh… Trong khi đó, tổng đầu tư toàn xã hội đã xuống khá thấp ở mức khoảng 34-35% GDP, đường lùi tiếp dường như không còn dư địa lớn.

Trong khi đó, TS. Nguyễn Đức Thành cũng lưu ý thêm, ở tình thế lạm phát đã xuống thấp, năm 2012 có thể được “lợi dụng” để điều chỉnh giá một số mặt hàng cơ bản như điện, nước… Việc điều chỉnh này, theo ông, có thể góp vào lạm phát khoảng 3%.

Nhiều quan điểm khác cũng nhìn nhận rằng, mặc dù cán cân thanh toán thặng dư trong năm qua, nhưng tính ổn định chưa vững do nhiều ngân hàng, doanh nghiệp thời gian qua vay nợ ngắn hạn nước ngoài, khiến các khoản ngoại tệ này có thể nhanh chóng đảo chiều. 

TS. Vũ Viết Ngoạn cho rằng, căng thẳng tỷ giá vẫn có thể xảy ra ở thời điểm nào đó, đặc biệt trong khoảng nửa đầu năm, trước khi có thể ổn định hơn trong giai đoạn sau đó.

Liên quan đến lãi suất, ông Ngoạn tính toán rằng với điều kiện lạm phát cả năm khoảng 9%, lãi suất huy động khoảng 10-11% là thực dương thì lãi suất cho vay năm nay có thể giảm khoảng 4 điểm phần trăm so với năm ngoái.

Từ thực tế trên, quan ngại lớn hơn là liệu với kịch bản lạm phát tăng khoảng 9% trong năm nay có đủ để nền kinh tế tiếp tục hoạt động bình thường? 

Sau 4-5 năm vật lộn với bất ổn vĩ mô và thay đổi chính sách, sức khỏe của nhiều doanh nghiệp đã yếu đi nhiều. Ông Trần Đình Thiên cho rằng, nếu lãi suất ít nhất cũng khoảng 15% vào cuối năm nay, chuyện bao nhiêu doanh nghiệp còn sống được sẽ rất khó đo đếm...

Cho nên, TS. Lê Xuân Nghĩa cho rằng, nền kinh tế đang rơi vào thế “kẹt”, để kiểm soát lạm phát, nếu thắt chặt chính sách sẽ dẫn tới đình đốn sản xuất, nhưng nếu kích thích kinh tế và dùng đòn bẩy tài chính hỗ trợ thì lại ngay lập tức dẫn đến lạm phát.